Những ngân hàng nào bị Kiểm toán Nhà nước chỉ rõ vượt trần tín dụng, hạch toán sai lãi dự thu

Nhã Vân

Đơn cử như, ShinhanBank; Mizuho Hồ Chí Minh, Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga… là những ngân hàng “bị bêu tên” trong báo cáo của Kiểm toán Nhà nước.

Tổng hợp kết quả các cuộc kiểm toán tổ chức trong năm 2020 đối với niên độ ngân sách năm 2019, về lĩnh vực ngân hàng, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đánh giá, năm 2019, các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm được kiểm toán đảm bảo các chỉ tiêu an toàn trong hoạt động, kinh doanh có lãi, đạt mục tiêu tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 2%.

ngan-hang1-1627011661.jpg
Trụ sở Kiểm toán Nhà nước tại Hà Nội.

Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ rõ một số tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng vượt mức tối đa cho phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cụ thể, Ngân hàng Shinhan Bank vượt 132 tỷ đồng, Ngân hàng Mizuho Hồ Chí Minh vượt 192 tỷ đồng, Ngân hàng Busan - Chi nhánh Hồ Chí Minh vượt 83 tỷ đồng, Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga vượt 69 tỷ đồng…

Kiểm toán Nhà nước cho rằng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc xác định giá trị tài sản đảm bảo, việc hạch toán giá trị tài sản cho thuê tài chính chưa phù hợp. Cụ thể, việc xác định giá trị tài sản bảo đảm cho thuê tài chính theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 chưa căn cứ vào giá trị thực tế hợp lý của tài sản mà phụ thuộc vào dư nợ cho thuê, chưa phản ánh đúng bản chất của tài sản bảo đảm. Thứ hai, việc hạch toán, theo dõi, phản ánh giá trị tài sản cho thuê tài chính theo giá gốc ban đầu theo quy định tại Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-NHNN ngày 17/01/2018 chưa phù hợp với nguyên tắc giá trị tài sản cho thuê giảm dần và được chuyển giao cho bên đi thuê khi hết thời gian thuê.

ngan-hang-1627011661.jpg
Ngân hàng Shinhan Bank.

VCB ghi nhận lãi dự thu không đúng quy định

Một số đơn vị hạch toán doanh thu, thu nhập, chi phí chưa phù hợp, chính xác. Cụ thể, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - VCB ghi nhận lãi dự thu không đúng quy định đối với các khoản nợ được cơ cấu lại 85,47 tỷ đồng; hạch toán thiếu 29,25 tỷ đồng phí bảo lãnh, phí phát hành L/C; hạch toán thừa lãi dự chi 19,07 tỷ đồng. Agribank hạch toán thừa lãi dự thu 114,7 tỷ đồng…

Tổng Công ty cổ phần Bảo Minh: Hạch toán thiếu doanh thu 7,04 tỷ đồng đối với các hợp đồng bảo hiểm đã phát sinh trách nhiệm; chưa hạch toán thu đòi người thứ ba 55,21 tỷ đồng; trích lập dự phòng bồi thường bảo hiểm gốc và nhận tái bảo hiểm thừa 13,96 tỷ đồng. 

ngan-hang3-1627011661.jpg
Giao dịch tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam. Ảnh minh họa.

Một số ngân hàng phân loại nợ chưa phù hợp, ngoại trừ các trường hợp năm 2020 các ngân hàng đã phân loại vào nhóm nợ cao hơn hoặc đã tất toán nợ vay nên KTNN không điều chỉnh nhóm nợ (tại Agribank đã không điều chỉnh giảm dư nợ nhóm 1 là 2.874,96 tỷ đồng, nhóm 2 là 1.303,32 tỷ đồng; tăng dư nợ nhóm 3 là 2.057,69 tỷ đồng, nhóm 4 là 1.187,83 tỷ đồng, nhóm 5 là 932,76 tỷ đồng; Tại VCB: Không điều chỉnh giảm dư nợ nhóm 1 là 992,84 tỷ đồng; tăng dư nợ nhóm 2 là 841,49 tỷ đồng, nhóm 3 là 143,86 tỷ đồng, nhóm 4 là 0,77 tỷ đồng, nhóm 5 là 6,72 tỷ đồng);

Kết quả kiểm toán còn điều chỉnh nhóm nợ tại Agribank giảm dư nợ nhóm 1 là 1.128,63 tỷ đồng; tăng dư nợ nhóm 2 là 823,82 tỷ đồng, nhóm 3 là 184,77 tỷ đồng, nhóm 4 là 19,92 tỷ đồng, nhóm 5 là 100,12 tỷ đồng; tại VCB: Tăng dư nợ nhóm 1 là 16,34 tỷ đồng, nhóm 2 là 417,66 tỷ đồng, giảm dư nợ nhóm 4 là 434 tỷ đồng. 

Ngoại trừ các trường hợp năm 2020 các ngân hàng đã trích lập đầy đủ dự phòng hoặc đã tất toán nợ vay nên KTNN không điều chỉnh giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tại VCB 1.940,2 tỷ đồng, không điều chỉnh tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tại Agribank 1.357,58 tỷ đồng, kết quả kiểm toán còn điều chỉnh giảm chi phí dự phòng tại VCB 183,87 tỷ đồng, tăng chi phí dự phòng tại Agribank 97,16 tỷ đồng. 

Được biết, cuối tháng 3/2021, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam - VCB đã công bố thông tin báo cáo tài chính riêng lẻ và Hợp nhất năm 2020 được kiểm toán và Điều chỉnh hồi tố số liệu năm 2019 theo kết quả KTNN.

KTNN cũng chỉ rõ, hoạt động mua bán nợ xấu theo giá thị trường của Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam còn hạn chế.

Cơ quan Kiểm toán cũng chỉ ra nhiều hạn chế tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Cụ thể, ngân hàng này đã xóa nợ 19,44 tỷ đồng cho nhiều khách hàng được coi là mất tích theo xác nhận của chính quyền cấp xã, không phù hợp với quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015.

Trong đó, có 17 trường hợp vẫn đóng bảo hiểm xã hội; điều chỉnh kế hoạch vốn Chương trình cho vay hộ dân tộc thiểu số nghèo chưa kịp thời dẫn đến năm 2018, 2019 có 3.135 trường hợp không được vay lãi suất ưu đãi tương ứng tiền lãi ưu đãi 2,56 tỷ đồng; áp dụng thời gian ân hạn 12 tháng đối với hầu hết các khoản cho vay HSSV không phù hợp quy định tại Quyết định 157/2007/QĐ-TTg (chỉ áp dụng trong trường hợp HSSV ra trường chưa có việc làm/không có thu nhập); chính sách giảm lãi cho HSSV khi trả nợ trước hạn còn bất cập.

Ngân hàng Chính sách xã hội cũng chưa triển khai quản trị hệ thống CNTT đầy đủ theo định hướng, kế hoạch và quy định của NHNN; khả năng hỗ trợ quản lý của hệ thống CNTT chưa hiệu quả; chưa thực hiện đầy đủ các quy định của NHNN về đảm bảo ATTT; ứng dụng CNTT vào các nghiệp vụ liên quan đến BCTC còn hạn chế…

Agribank có nhiều khoản đầu tư không hiệu quả

Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (Agribank) mức chia cổ tức, lợi nhuận chỉ bằng 1,17% vốn đầu tư. Nhiều khoản đầu tư của ngân hàng không hiệu quả phải trích lập dự phòng 100% vốn đầu tư gồm 294 tỷ đồng vào Công ty TNHH MTV Cho thuê tài chính II (ALC II) đã phá sản; 172 tỷ đồng vào ALC I 8,2 tỷ đồng vào Công ty TNHH Liên doanh Quản lý Đầu tư Agribank - VGFM.

ngan-hang4-1627011661.jpeg
Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (Agribank).

Hơn nữa, Agribank còn phải chịu trách nhiệm về khoản tổn thất phải bồi thường cho BHXH Việt Nam theo phán quyết của tòa án 862,64 tỷ đồng do bảo lãnh cho ALC II; 

Cùng với đó, khoản đầu tư 1.251 tỷ đồng vào CTCP Chứng khoán Agribank phải trích lập dự phòng 92,34 tỷ đồng (lỗ lũy kế đến 31/12/2019 của công ty là 360,6 tỷ đồng). Đầu tư vào Bảo hiểm Bảo Minh có tỷ suất lợi nhuận/vốn đầu tư bằng 4,8%.

Trong năm 2019, 18/21 mã chứng khoán kinh doanh của Agribank phải trích lập dự phòng 86,25 tỷ đồng (tương ứng 33% vốn đầu tư); một số khoản đầu tư tài chính ngắn hạn phải trích lập dự phòng 100% vốn đầu tư (178,25 tỷ đồng tiền gửi tại ALC II; 68,4 tỷ đồng trái phiếu Vinashin; 8,76 tỷ đồng trái phiếu CTCP Sông Đà Thăng Long; 20 tỷ đồng trái phiếu CTCP Vận tải Biển Bắc).

Pháp luật Plus sẽ tiếp tục thông tin.